Hàng Trung Quốc giả mạo xuất xứ tràn vào Việt Nam

Trước những biến căng thẳng của cuộc chiến Thương mại Mỹ – Trung, Đồng nhân dân tệ đang có dấu hiệu giảm giá, tăng nguy cơ hàng hóa Trung Quốc giả mạo xuất xứ tràn vào Việt Nam.

Nguyên nhân trực tiếp khiến Đồng NDT liên tiếp giảm giá là do Mỹ tố cáo Trung Quốc chủ động thao túng tiền tệ, tức là làm mất giá NDT tạo lợi thế cạnh tranh cho hàng xuất khẩu. Nhưng thực tế cho thấy, đồng NDT cũng mất giá thực sự chứ không chỉ do họ chủ động.Với tình trạng này, Trung Quốc chiếm ưu thế cạnh tranh khi xuất khẩu hàng ra nhiều nước nhưng cũng là nguy cơ rút lui của làn sóng FDI tại quốc gia này.

Hiện tại, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn thứ ba và là thị trường nhập khẩu số 1 của Việt Nam. Do đó, Việt Nam phải đối mặt với nguy cơ nhập siêu và sự cạnh tranh khốc liệt khi hàng Trung Quốc giá rẻ liên tiếp tràn vào thị trường. Đáng lo lắng hơn là hiện tượng hàng Trung Quốc giả mạo hàng hóa có xuất xứ “Made in Vietnam” để hưởng ưu đãi thuế khi xuất ra nước ngoài.

hàng Trung Quốc gian lận xuất xứ

Thậm chí hàng nhập về đã kèm cả phiếu bảo hành bằng tiếng Việt với đủ thông tin về nhãn hiệu, địa chỉ doanh nghiệp, trung tâm bảo hành tại Việt Nam… để tiêu thụ nội địa hoặc xuất khẩu. Ngoài ra, cũng có trường hợp doanh nghiệp nhập hàng từ nước ngoài, dán nhãn hàng hóa hoặc ghi xuất xứ hàng hóa được sản xuất tại nước ngoài… nhưng sau đó thay nhãn mác mới ghi “made in Vietnam” hoặc “sản xuất tại Việt Nam” khi bán tại thị trường nội địa.

Vì vậy, trước thực trạng này, các doanh nghiệp phải tự mình nâng cao chất lượng, uy tín thương hiệu của hàng hóa Việt Nam để cạnh tranh một cách lành mạnh với các sản phẩm đến từ Trung Quốc. Đồng thời, cơ quan chức năng cũng sẽ phải tăng cường hơn nữa các biện pháp chống buôn lậu, gian lận thương mại, đặc biệt là gian lận xuất xứ hàng hóa từ Trung Quốc vào Việt Nam để tránh những tổn thất đến người tiêu dùng.

Xem thêm:

Bàn về các quy định “Made in Vietnam”

Theo Dự thảo Thông tư của Bộ Công Thương về hàng hóa “Made in Vietnam”, nhiều quan điểm cho rằng con số 30% VAC có quá thấp để công nhận sản phẩm có xuất xứ Việt Nam.

Như thông tin đã đưa, vào chiều 14/8 vừa qua, Bộ Công Thương đã có buổi trao đổi với báo chí về dự thảo Thông tư quy định hàng “Made in Vietnam”, cụ thể là các quy định xác định sản phẩm, hàng hóa là sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam hoặc sản xuất tại Việt Nam.

Trả lời về thời gian đưa ra dự thảo, Thứ trưởng Bộ Công Thương – ông Trần Quốc Khánh cho biết, trong việc quy định thế nào là hàng hóa, sản phẩm của Việt Nam, Bộ trước đó đã đưa ra nhiều văn bản hướng dẫn. Tuy nhiên, các văn bản này chỉ áp dụng cho hàng xuất khẩu để hưởng ưu đãi thuế. Với hàng hóa sản xuất và sau đó lưu thông trong nước, việc ghi nước xuất xứ được thực hiện theo Nghị định số 43/2017 của Chính phủ về nhãn hàng hóa, là lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Khoa học và Công nghệ, không phải của Bộ Công Thương. Trên thực tế, việc thực hiện nguyên tắc tự xác định và chịu trách nhiệm về nước xuất xứ hàng hóa phát sinh khá nhiều bất cập, do đó, Bộ Công Thương đã chủ động đề xuất nghiên cứu, dự thảo Thông tư lần này.

hàng hóa có xuất xứ Việt Nam

Về quy định chỉ cần hàm lượng 30% đã được coi là hàng hóa Việt Nam, Thứ trưởng cho biết dự thảo Thông tư này được xây dựng chủ yếu dựa trên các bộ quy tắc xuất xứ hiện đang áp dụng cho hàng xuất khẩu từ Việt Nam, trong đó có Nghị định số 31/2018/NĐ-CP ngày 8 tháng 3 năm 2018 của Chính phủ. Nhiều sản phẩm xuất khẩu của ta chỉ cần đáp ứng VAC 30% là được các nước bạn hàng công nhận là xuất xứ Việt Nam. Đặt ra mức cao hơn không phải điều khó khăn, muốn cao hơn vẫn có thể điều chỉnh được. Tuy nhiên, nếu quy định ở mức cao hơn, sẽ xuất hiện tình huống cả thế giới công nhận nhưng riêng Việt Nam lại không công nhận một sản phẩm nào đó là sản phẩm của mình.

Thực tế cả Mỹ lẫn Thụy Sĩ, trong đàm phán với Việt Nam, đều tha thiết đề nghị ta áp dụng quy tắc VAC 30% hay chuyển đổi mã số hàng hóa cho tuyệt đại đa số sản phẩm công nghiệp của họ, không ai đề nghị 50% hay 60% cả, trừ đối với một vài mặt hàng cực kỳ nhạy cảm như may mặc, ô tô.

Về ý kiến lo ngại, việc tự xác định và ghi nhãn “Sản xuất tại Việt Nam” không biết có đảm bảo chính xác không và khả năng Nhà nước có cơ quan đứng ra đánh giá và cấp giấy công nhận, Thứ trưởng Khánh cho biết, ban soạn thảo chưa bao giờ tính đến khả năng này bởi cơ chế “đánh giá – công nhận” sẽ thực sự là gánh nặng cho cả doanh nghiệp cũng như cơ quan quản lý. Vì vậy, khi thông tư này chính thức ban hành, việc thực hiện dựa trên sự tự giác của doanh nghiệp. Nhà nước chỉ can thiệp để phân xử khi phát sinh tình huống cần thiết.

Xem thêm:

Bộ công thương dự thảo Thông tư quy định hàng Made in Việt Nam (2019)

Trong bối cảnh tồn tại các ý kiến không đồng nhất về việc xác định xuất xứ hàng hóa, Bộ Công Thương dựa trên các bộ quy tắc xuất xứ hiện đang áp dụng cho hàng xuất khẩu từ Việt Nam để xây dựng Thông tư Quy định về cách xác định sản phẩm, hàng hóa là sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam hoặc sản xuất tại Việt Nam.

Cơ quan soạn thảo cho biết, đối với hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu, Việt Nam đã có ban hành văn bản hướng dẫn đề cập đến cách hiểu như thế nào thì một sản phẩm được xem là có xuất xứ Việt Nam. Tuy nhiên, với hàng hóa sản xuất, gồm cả đầu vào nhập khẩu sau lưu thông trong nước thì chưa có quy định rõ ràng.

Theo dự thảo lần này, tùy thuộc vào quá trình sản xuất, gia công, chế biến, tổ chức, cá nhân có thể lựa chọn và chỉ sử dụng một trong các cụm từ sau đây để thể hiện hàng hóa là hàng hóa của Việt Nam trên nhãn hàng hóa và/hoặc trên tài liệu, vật phẩm chứa đựng thông tin liên quan đến hàng hóa đó:

  • Sản phẩm của Việt Nam hoặc sản phẩm Việt Nam,
  • Hàng hóa của Việt Nam hoặc hàng hóa Việt Nam hoặc hàng Việt Nam,
  • Sản xuất tại Việt Nam hoặc Việt Nam sản xuất,
  • Chế tạo tại Việt Nam hoặc Việt Nam chế tạo, Chế tác tại Việt Nam hoặc Việt Nam chế tác.

Theo đó, hàng hóa được coi là hàng hóa của Việt Nam sẽ rơi vào các trường hợp sau:

  • Hàng hóa có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại Việt Nam;
  • Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy hoặc không được sản xuất toàn bộ tại Việt Nam nhưng trải qua công đoạn gia công, chế biến cuối cùng tại Việt Nam làm thay đổi cơ bản tính chất của hàng hóa.

Đồng thời, Thông tư cũng quy định trường hợp Hàng hóa không được xem là có xuất xứ Việt Nam, nếu chỉ trải qua một hoặc kết hợp nhiều công đoạn sau:

  • Các công việc bảo quản hàng hoá trong quá trình vận chuyển và lưu kho (thông gió, trải ra, sấy khô, làm lạnh, ngâm trong muối, xông lưu huỳnh hoặc thêm các phụ gia khác, loại bỏ các bộ phận bị hư hỏng và các công việc tương tự);
  • Các công việc như lau bụi, sàng lọc, chọn lựa, phân loại (bao gồm cả việc xếp thành bộ) lau chùi, sơn, chia cắt ra từng phần; thay đổi bao bì đóng gói và tháo dỡ hay lắp ghép các lô hàng; đóng chai, lọ, đóng gói, bao, hộp và các công việc đóng gói bao bì đơn giản khác; dán lên sản phẩm hoặc bao gói của sản phẩm các nhãn hiệu, nhãn, mác hay các dấu hiệu phân biệt tương tự; trộn đơn giản các sản phẩm, dù cùng loại hay khác loại; lắp ráp đơn giản các bộ phận của sản phẩm để tạo nên một sản phẩm hoàn chỉnh; giết, mổ động vật.

Ngoài ra, hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam và hàng hóa lưu thông trên thị trường Việt Nam, nếu không đáp ứng điều kiện nêu trên, không được phép thể hiện là hàng hóa của Việt Nam trên nhãn hàng hóa và/hoặc trên bất kỳ tài liệu, vật phẩm nào chứa đựng thông tin liên quan đến hàng hóa đó.

Hiện vẫn đang có những bàn luận xoay quanh các quy định “Made in Vietnam” trong dự thảo Thông tư lần này. Cục Xuất nhập khẩu khẳng định, về nguyên tắc, Thông tư sẽ không làm phát sinh thêm chi phí cho doanh nghiệp bởi ghi nhãn hàng hóa và công bố nước xuất xứ trên nhãn hàng hóa đã từ lâu là yêu cầu bắt buộc theo quy định của Nghị định 43. Thông tư chỉ giúp các tổ chức, cá nhân có căn cứ để thực hiện đúng yêu cầu của Nghị định 43, giúp loại bỏ các trường hợp vô tình hay cố tình vi phạm thông tin về nước xuất xứ.

Xem thêm: